Khi ta 20
Mấy hôm trước, trên một chuyến bay, tôi ngồi cạnh chàng thanh niên 20 tuổi đang mê mẩn khám phá chiếc điện thoại đời mới. Khi máy bay chuẩn bị cất cánh, cô tiếp viên hàng không tới nhắc cậu cất điện thoại đi để có thể khởi hành.
Lúc đó, tôi bật cười. Cậu thanh niên có vẻ hơi cáu:
- “Ông cười cái gì?”.
- “Trong 20 năm nữa những chiếc điện thoại sẽ không khiến cậu hứng thú thế này. Tôi cũng từng là thanh niên như cậu, và những điều khiến tôi đau đầu khi đó, giờ tôi còn chẳng nghĩ đến”.
Cậu ta liền hỏi tôi làm nghề gì, tôi nói mình là một chuyên gia tư vấn tâm lý. Cậu thanh niên bắt đầu hứng thú nói chuyện với tôi, và câu chuyện giữa tôi với anh chàng trẻ tuổi đam mê điện thoại trên chuyến bay đó có lẽ rất thú vị để chia sẻ với các bạn vào một ngày đầu năm thế này.
Những suy nghĩ, tổng kết về tuổi 20, cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời, dành cho tất cả những ai đã, đang và sẽ bước qua nó. Vậy tuổi 20 có gì? Tuổi 20 là…
… Nghề nghiệp gian nan
Khi cậu thanh niên hỏi tôi thế nào khi ở tuổi cậu, tôi nói tôi coi tuổi 20 là thời kỳ “học làm người lớn”. Chúng ta tốt nghiệp Đại học vào tầm 22 tuổi và nhanh chóng “vào số” cho động cơ của mình để chuẩn bị băng băng thẳng tiến trên đại lộ cuộc đời. Chúng ta tin mình biết hết mọi điều. Mình đã trưởng thành rồi; nhưng thực tế chúng ta chỉ là những sinh viên mới tốt nghiệp. Gia đình đặt nhiều kỳ vọng và chúng ta đã sẵn sàng. Ước mơ và tham vọng, chúng ta biết mình muốn gì.
NHƯNG: Không cần biết ta là ai ở trường Đại học, dù ta rất giỏi trong chuyện tình trường, là tâm điểm trong những buổi tiệc tùng hay là sinh viên giỏi nhất lớp, khi bước vào đời ta sẽ sớm nhận ra rằng mình đang đứng ở bậc đầu tiên của nấc thang danh vọng. Phải bắt đầu bước những bước đầu tiên!
Sẽ có rất nhiều thất bại ở tuổi thanh niên. Những rắc rối, trục trặc trong công việc, thậm chí có những người không có công việc ổn định dù đã ngoài 30, vì vậy tất cả những gì ta trải qua ở tuổi 20 là một bài học lớn sau những bài học khác. Ta phải học cách làm việc với những người giỏi giang hơn, từng trải hơn, những “ma cũ”, những kẻ sành sỏi, biết “luật chơi” và chơi giỏi hơn ta.
Ở tuổi 20, ta tin mình biết rõ sẽ làm nghề gì, nhưng công việc mà tôi nghĩ mình sẽ làm khi đó hoàn toàn khác với công việc tôi đang làm bây giờ. Bạn chắc sẽ phải thay đổi công việc khá nhiều cho tới khi bạn hiểu được mình là ai trong cuộc đời này (đó là khi bạn “tri thiên mệnh”!).
Hãy học cách vui vẻ với những gì mình buộc phải làm dù cho bạn đang nản lòng, và hãy tin đó chỉ là tạm thời thôi, hãy kiên trì! Bù lại bạn sẽ có những kinh nghiệm quý báu trong công việc: Học cách hợp tác với những người mà bạn không thiện cảm, học những kỹ năng mới, học cách kiếm tiền và tiêu tiền (cảm giác thật tuyệt!).
Tình yêu trắc trở
Tuổi 20 giống như khi bạn còn học cấp III, nhưng lần này bạn học một cách nghiêm túc. Bạn bắt đầu suy nghĩ về sự nghiệp và tình yêu theo một cách rất khác. Bạn nghĩ về “người yêu” theo cách khác: “Mình sẽ gặp đúng người dành cho mình, chúng mình sẽ yêu nhau say đắm và chung sống bên nhau”. (Đó, thấy chưa? Bạn không chỉ đơn giản muốn cặp kè cho vui nữa, mà có hẳn dự tính về một gia đình cơ đấy!)
NHƯNG: Bạn sẽ nhanh chóng phát hiện ra mình còn nhiều điều phải học. Các bạn nam không còn muốn hẹn hò với những cô bạn bằng tuổi bởi các cậu cho rằng họ quá ‘trẻ con”. Nhưng các cậu cũng sẽ thấy rằng đối với các cô gái, họ cũng chỉ thích hẹn hò với những anh chàng hơn tuổi và các cậu cũng rất “trẻ con” trong mắt họ.
Mỗi khi một mối tình kết thúc, bạn cần nhìn lại xem nó đã diễn ra như thế nào và bài học cần rút ra là gì, để bạn không lặp lại những sai lầm trong chọn lựa và thất bại trong tình cảm như thế nữa. Tuổi 20 thực sự là thời điểm tuyệt vời để học hỏi mọi điều. Đó chính là lúc để bạn tự hiểu mình và đánh giá đúng hơn về bản thân.
Hãy học hành, làm việc chăm chỉ, nhưng hãy vui chơi khi bạn muốn. Ra ngoài và gặp gỡ bạn bè, học hỏi từ những trải nghiệm. Hãy hẹn hò, yêu đương. Hãy gặp gỡ thật nhiều người khác giới. Hãy hiểu bản thân mình hơn qua những mối quan hệ của bạn.
Khi nhớ về chuyện tình cảm thời thanh niên của mình, tôi thường cười thầm bản thân. Mỗi người bạn gái của tôi khi đó đều “dạy” cho tôi cùng một “bài học”, dạy đi dạy lại. Và tôi đã phải dành cả thời thanh niên để hiểu ra bài học đó là gì, và làm thế nào để không lặp lại sai lầm, không hẹn hò với những cô gái kiểu như thế nữa. (Nhớ nhé: Đừng bao giờ trèo lên lưng con ngựa đã làm bạn ngã lần thứ hai!) Sau mỗi cuộc tình, hãy thư giãn, ngồi xuống và suy nghĩ về những gì đã qua để hiểu bản thân. Một cách rất hiệu quả đối với tôi là viết nhật ký, như thế bạn có thể đọc lại và thấy mình đã trưởng thành như thế nào.
Tiền nong eo hẹp
Bạn không thể dựa dẫm vào bố mẹ như trước mà phải tự lo cho những khoản chi tiêu cá nhân. Tôi còn nhớ khi đó, tôi có rất ít tiền, phải đi làm bồi bàn để có tiền đi chơi với bạn bè. Đó là thời gian tuy khó khăn nhưng rất tuyệt.
Bây giờ tôi đã có một công việc tốt, sống trong một ngôi nhà đẹp và mọi thứ đều tuyệt nhưng vẫn nhớ như in hương vị của ly cà phê vỉa hè khi tôi ngồi nhâm nhi bên các “chiến hữu”, nhớ lúc tôi cầm số tiền lương ít ỏi cân nhắc xem nên làm điều gì đặc biệt cho bạn gái. Chúng tôi đã đi xem phim và ăn kem trong cái rét của mùa đông Hà Nội (giống hệt cái rét đêm nay!). Tôi vẫn nhớ rõ ràng những giây phút hạnh phúc đáng trân trọng đó. Trong ngăn tủ đựng đồ lưu niệm, tôi còn giữ những tấm hình tự chụp khi tôi 20 và mỗi khi xem lại tôi lại cố nhớ xem lúc đó mình đã vui sướng thế nào.
Giờ tôi đã bước qua tuổi 20, nhưng nhiều khi tôi vẫn thấy rằng có những giây phút ở tuổi 20 còn ngọt ngào và rực rỡ hơn cả cảm giác khi tôi cầm trong tay chìa khóa của căn hộ tiện nghi nằm giữa trung tâm thành phố. Vì vậy, nói thật nhé, hãy tận hưởng thời gian “học làm người lớn” này đi, bởi nó rất kỳ diệu. Đó là thời gian bạn vừa thú vị vừa ngạc nhiên trước cuộc sống trong khi những người khác đã lắc đầu, chùn chân. Sự ngỡ ngàng, háo hức, nhiệt huyết, và can đảm đối đầu với thử thách của bạn lúc này sẽ trở thành những kỷ niệm đẹp đẽ cho bạn về sau. Hãy yêu quý tuổi 20 của mình nhé!
NHỚ: Đừng bao giờ so sánh mình với bất cứ ai, đừng nghĩ mình thua kém những người có mức lương cao hơn. Cuộc đời không phải cuộc chạy nước rút mà là một cuộc chạy việt giã, rồi bạn sẽ dần khấm khá hơn trên chặng đường dài. Ngay ở tuổi 20 hãy học cách tiết kiệm tiền để có những đồng vốn đầu tiên bằng cách cắt giảm chi tiêu đối với những gì không cần thiết. Lúc này chính là thời điểm tốt nhất để bắt đầu học cách tiết kiệm tiền và đầu tư khôn ngoan.
Tâm trạng hay thay đổi
Đó là lý do tại sao đôi lúc bạn thấy thất vọng vô cùng và sống nội tâm hơn. Nhưng đừng mất niềm tin và cũng đừng quá nghiêm khắc với bản thân. Hãy tin là rồi bạn sẽ vượt qua. Bạn sẽ có một cuộc sống thật tuyệt vời khi bạn nhìn lại tuổi 20 và coi đây là thời gian để bạn phạm sai lầm, học hỏi từ những sai lầm đó, trưởng thành, và hiểu bản thân mình hơn để rồi lên kế hoạch cho một tương lai rực sáng, đầy hứa hẹn.
Chào năm mới và chúc bạn ở tuổi nào cũng tràn đầy nhựa sống như tuổi 20!
Nguồn: dantri.com.vn
Comment:
Vốn dĩ không định dành thời gian cho blog vào lúc này, nhưng bài viết này đánh động mình quá. Mình sắp tròn 23 tuổi rồi, ra trường được vài tháng rồi, cũng lâm vào tình trạng sự nghiệp gian nan, tình yêu trắc trở, tiền nong eo hẹp nhưng vui nhất là đã biết cách làm tâm trạng ổn định hơn và thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, luôn hứa với bản thân là sẽ sống hạnh phúc hơn.
Thời gian vừa qua, mình không update blog và cũng không ngờ lại có nhiều bạn vẫn ghé blog của mình, có bạn còn hỏi mình sao mãi không có bài nào mới. Cảm ơn các bạn nhiều lắm. Ben cảm động lắm các bạn ạ. Sẽ quay trở lại vào loạt bài “Tại sao không?” sẽ sớm thôi.
Chúc các bạn một năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
Công ước Lahay năm 1978 về luật áp dụng với chế độ tài sản vợ chồng
Lưu ý trước khi đọc tài liệu:
1. Tài liệu này được dịch từ convention on the law applicable to matrimonial property regimes (kí ngày 14 tháng 3 năm 1978),
2. Tài liệu này là bản dịch không chính thức, thực hiện bởi Phạm Linh Nhâm – sinh viên năm thứ 4 trường Đại học Luật Hà Nội khóa 2006 – 2010 để phục vụ cho việc làm khóa luật tốt nghiệp.
3. Quyền tác giả đối với tài liệu này thuộc về Phạm Linh Nhâm.
4. Do người dịch không có chuyên môn về dịch thuật nên sai sót của bản dịch là điều không thể tránh khỏi.
CÔNG ƯỚC VỀ LUẬT ÁP DỤNG VỚI CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG
(kí ngày 14 tháng 3 năm 1978)
Các nước kí kết công ước này,
Mong muốn thiết lập các điều khoản chung liên quan đến luật áp dụng cho chế dộ tài sản vợ chồng,
Đã quyết định kí kết công ước này và đã đồng ý với các điều khoản sau:
CHƯƠNG I: CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÔNG ƯỚC
Điều 1
Công ước này xác định luật điều chỉnh cho chế độ tài sản vợ chồng.
Công ước này không áp dụng với -
(1) Vấn đề cấp dưỡng của hai vợ chồng;
(2) Các quyền thừa kế của người còn sống sau khi người kia qua đời;
(3) Năng lực của vợ chồng
Điều 2
Công ước được áp dụng cả trong trường hợp quốc tịch và nơi cư trú thường xuyên của vợ chồng hoặc luật được áp dụng theo các điều khoản sau đây không phải là của các nước thành viên.
CHƯƠNG II –LUẬT ÁP DỤNG
Điều 3
Chế độ tài sản vợ chồng được qui định bởi luật của quốc gia mà vợ chồng đã lựa chọn trước khi kết hôn.
Vợ chồng chỉ có thể lựa chọn một trong các luật điều chỉnh như sau:
(1) Luật của quốc gia mà vợ hoặc chồng có quốc tịch tại thời điểm lựa chọn.
(2) Luật của quốc gia mà vợ hoặc chồng cư trú thường xuyên tại thời điểm lựa chọn.
(3) Luật của quốc gia nơi cư trú thường xuyên sau đầu tiên khi kết hôn của một bên vợ hoặc chồng.
Luật của nước đã được lựa chọn sẽ được áp dụng với tất cả tài sản của họ.
Tuy nhiên, vợ chồng, cho dù đã chọn hay không các luật điều chỉnh như ở trên, nhưng trong các vấn đề liên quan đến bất động sản thì vẫn phải tuân theo luật của nước nơi có bất động sản. Họ cũng có thể qui định rằng bất kì bất động sản nào có được sau đó sẽ phải được điều chỉnh theo luật của quốc gia nơi có bất động sản.
Điều 4
Trước khi kết hôn, nếu vợ chồng không chọn luật áp dụng cho chế độ tài sản của họ thì chế độ tài sản của họ sẽ được điều chỉnh theo luật của quốc gia nơi cư trú thường xuyên đầu tiên của hai người sau khi kết hôn.
Tuy nhiên, trong các trường hợp sau đây, chế độ tài sản vợ chồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước mà vợ chồng đều có cùng quốc tịch:
(1) Trường hợp bản tuyên bố qui định theo Điều 5 đã được nước đó đưa ra và việc áp dụng tuyên bố đó cho vợ chồng không bị loại trừ bởi những điều khoản được qui định tại đoạn thứ 2 của Điều 5;
(2) Trường hợp nước đó không phải là thành viên của công ước này và theo nguyên tắc về hôn nhân có yếu tố nước ngoài của quốc gia đó thì luật quốc gia được áp dụng và vợ chồng có nơi cư trú thường xuyên đầu tiên sau khi kết hôn:
a) ở một nước mà đã đưa ra bản tuyên bố được qui định tại điều 5, hoặc
b) ở một nước không phải là thành viên của công ước này và qui định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài của nước đó cũng qui định áp dụng luật của nước mà họ có quốc tịch.
(3) Trường hợp vợ chồng không có nơi cư trú thường xuyên đầu tiên sau khi kết hôn ở cùng một quốc gia.
Nếu vợ chồng không có cùng nơi cư trú thường xuyên và cũng không có cùng quốc tịch thì chế độ tài sản vợ chồng của họ sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia mà có mối liên hệ gần gũi nhất sau khi xem xét tất cả các trường hợp.
Điều 5
Trước thời điểm phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc tán thành, bất cứ quốc gia nào cũng có thể đưa ra bản tuyên bố yêu cầu áp dụng luật của nước mình theo khoản 1 đoạn thứ 2 Điều 4.
Bản tuyên bố này sẽ không được áp dụng cho vợ chồng mà cả hai đều tiếp tục có nơi cư trú thường xuyên ở quốc gia khác trước thời điểm kết hôn 5 năm và sau khi kết hôn lại tiếp tục cư trú ở quốc gia đó trừ khi quốc gia nơi mà vợ chồng cùng cư trú cũng đưa ra một bản tuyên bố tương tự hoặc quốc gia mà vợ chồng cùng cư trú không phải là thành viên của công ước này và các nguyên tắc trong quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài của nước đó yêu cầu phải áp dụng luật quốc tịch.
Điều 6
Trong thời kì hôn nhân vợ chồng có thể lựa chọn một luật khác điều chỉnh chế độ tài sản vợ chồng.
Vợ chồng có thể lựa chọn chỉ một trong các luật sau đây:
(1) Luật của bất cứ nước nào mà vợ hoặc chồng có quốc tịch ở thời điểm lựa chọn
(2) Luật của nước mà vợ hoặc chồng có nơi thường trú tại thời điểm lựa chọn
Luật được lựa chọn sẽ áp dụng cho toàn bộ tài sản của họ.
Tuy nhiên, vợ chồng, dù đã lựa chọn luật theo các đoạn trước hoặc theo Điều 3 hay chưa, có thể lựa chọn luật của nơi có tất cả hoặc một số bất động sản. Họ cũng có thể qui định rằng bất cứ bất động sản có được sau đó sẽ được điều chỉnh bởi luật của nơi có các bất động sản đó.
Điều 7
Miễn là vợ chồng chưa lựa chọn luật áp dụng khác thì luật áp dụng theo công ước này vẫn tiếp tục được áp dụng bất chấp mọi sự thay đổi về quốc tịch hay nơi thường trú của vợ chồng.
Tuy nhiên, nếu vợ chồng không lựa chọn luật áp dụng hoặc không có hôn ước thì thay vì luật đã áp dụng trước đó luật của quốc gia nơi mà họ cùng thường trú sẽ được áp dụng khi
(1) vợ chồng đã thiết lập nơi thường trú tại quốc gia đó, nếu họ có cùng quốc tịch của quốc gia đó, hoặc từ thời điểm họ trở thành công dân của quốc gia đó, hoặc
(2) sau thời điểm kết hôn, thời gian cư trú của họ trên quốc gia đó không ít hơn 10 năm, hoặc
(3) họ đã có được nơi thường trú, trong trường hợp chế độ tài sản vợ chồng tùy thuộc vào luật của quốc gia mà họ có cùng quốc tịch theo như ý 3 của đoạn thứ 2 Điều 4.
Điều 8
Việc thay đổi về luật áp dụng theo đoạn thứ 2 của Điều 7 sẽ chỉ phát sinh hiệu lực trong tương lai, và tài sản thuộc về vợ chồng trước khi diễn ra sự thay đổi đó không phải là đối tượng của luật áp dụng mới.
Tuy nhiên, bất cứ khi nào thay đổi luật áp dụng, việc thay đổi này phải tuân theo thể thức được ghi ở Điều 13. Luật mới được áp dụng đối với toàn bộ tài sản của họ nhưng không làm tổn hại và tôn trọng các vấn đề về bất động sản như các qui định của đoạn thứ 4 Điều 3 và đoạn thứ 4 Điều 6. Việc thay đổi luật áp dụng này không được ảnh hưởng theo chiều hướng bất lợi đến quyền lợi của các bên thứ ba.
Điều 9
Các quan hệ pháp lí giữa vợ chồng và một bên thứ ba được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng theo qui định của Công ước này.
Tuy nhiên, luật pháp của nước kí kết nào cũng có thể qui định rằng luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng có thể không được áp dụng bởi một cặp vợ chồng chống lại một bên thứ ba, trong trường hợp hoặc vợ chồng đó hoặc bên thứ ba có thường trú trên lãnh thổ của mình, trừ khi
(1) bất kì yêu cầu công khai hoặc đăng kí nào theo qui định của luật đó đã được tuân thủ, hoặc
(2) các quan hệ pháp lí giữa cặp vợ chồng và bên thứ ba phát sinh tại thời điểm khi bên thứ ba hoặc biết hoặc đáng lẽ phải biết luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng.
Luật của quốc gia kí kết nơi có bất động sản có thể qui định một qui tắc tương tự cho các quan hệ pháp lí giữa cặp vợ chồng và một bên thứ ba liên quan đến bất động sản ở nước đó.
Quốc gia kí kết có thể qui định rõ bằng cách tuyên bố áp dụng phạm vi của các đoạn thứ hai và ba của Điều này.
Điều 10
Các điều kiện liên quan đến sự thỏa thuận của vợ chồng đối với luật được lựa chọn áp dụng sẽ phải do luật đó quyết định.
Điều 11
Việc lựa chọn luật áp dụng phải được qui định rõ ràng, hoặc được qui định trong các điều khoản của hôn ước.
Điều 12
Hôn ước sẽ có hiệu lực nếu nó phù hợp với luật quốc gia được áp dụng cho chế độ tài sản vợ chồng, hoặc với pháp luật quốc gia của nơi lập hôn ước. Trong mọi trường hợp, hôn ước đều phải được lập bằng văn bản, có ghi rõ ngày tháng và có chữ kí của cả hai vợ chồng.
Điều 13
Việc lựa chọn luật áp dụng được qui định rõ ràng trong hôn ước, hoặc phải là luật do vợ chồng chỉ định theo luật của nước nơi kí kết hôn ước hoặc theo luật của nước là nơi vợ chồng thiết lập lựa chọn đó. Trong mọi trường hợp, việc lựa chọn phải được lập bằng văn bản, có ghi rõ ngày tháng và có chữ kí của cả hai vợ chồng.
Điều 14
Việc áp dụng pháp luật được xác định theo Công ước có thể bị bác bỏ chỉ khi nó rõ ràng là mâu thuẫn với chính sách công cộng (“trật tự công”).
CHƯƠNG III – CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG
Điều 15
Theo mục đích của Công ước, một quốc tịch chỉ được coi là quốc tịch chung của vợ chồng trong các trường hợp sau đây –
(1) cả hai vợ chồng đã mang quốc tịch đó trước khi kết hôn;
(2) một người đã tự nguyện nhập quốc tịch theo quốc tịch của người kia tại thời điểm kết hôn hoặc sau thời điểm kết hôn đó, hoặc là bằng một bản tuyên bố đã có hiệu lực hoặc là bằng việc không thực hiện quyền từ chối được cấp quốc tịch mới đó;
(3) cả hai vợ chồng đã tự nguyện cùng nhập 1 quốc tịch sau khi kết hôn.
Ngoại trừ trong các trường hợp nêu tại khoản 1 đoạn thứ hai của Điều 7, các qui định đề cập đến quốc tịch chung của vợ chồng không được áp dụng trong trường hợp vợ chồng có nhiều hơn một quốc tịch chung.
Điều 16
Theo mục đích của Công ước, trong trường hợp một quốc gia có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó có các hệ thống pháp luật khác nhau áp dụng cho các chế độ tài sản hôn nhân thì bất kì sự dẫn chiếu nào tới luật quốc gia của quốc gia đó sẽ được hiểu như là việc đề cập tới hệ thống được xác định bởi các qui tắc đang có hiệu lực tại quốc gia đó.
Trong trường hợp không có qui tắc đó, việc dẫn chiếu tới một quốc gia mà một bên vợ hoặc chồng là công dân sẽ được hiểu, theo mục đích của khoản 1 đoạn thứ hai của Điều 3 và khoản 1 đoạn thứ hai của Điều 6, như là việc đề cập đến đơn vị lãnh thổ nơi vợ hoặc chồng đã có nơi thường trú cuối cùng; và, theo mục đích của đoạn thứ hai Điều 4, việc dẫn chiếu tới quốc gia mà hai vợ chồng có chung quốc tịch sẽ được hiểu như là việc đề cập đến đơn vị lãnh thổ cuối cùng, nếu có, nơi mỗi người đã thường trú.
Điều 17
Theo mục đích của Công ước này, trường hợp một quốc gia có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó các hệ thống luật khác nhau áp dụng cho các chế độ tài sản vợ chồng thì bất kì sự dẫn chiếu nào tới việc thường trú tại quốc gia đó sẽ được hiểu như là việc đề cập đến thường trú tại một đơn vị lãnh thổ của quốc gia đó.
Điều 18
Một quốc gia kí kết mà có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó các hệ thống luật khác nhau áp dụng cho các chế độ tài sản vợ chồng sẽ không bị ràng buộc áp dụng các qui tắc của Công ước để xung đột với luật của các đơn vị lãnh thổ đó nếu luật quốc gia khác không được áp dụng với tư cách Công ước này.
Điều 19
Theo mục đích của Công ước này, trường hợp một quốc gia có hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật được áp dụng đối với các chế độ tài sản vợ chồng đối với các nhóm đối tượng khác nhau thì bất kì sự dẫn chiếu nào tới luật của quốc gia đó sẽ được hiểu như là việc đề cập đến hệ thống được xác định bởi các qui định đang có hiệu lực ở quốc gia đó.
Trong trường hợp không có qui tắc đó thì luật của quốc gia mà vợ chồng có chung quốc tịch được áp dụng trong những trường hợp được qui định tại đoạn đầu tiên của Điều 4, và luật của quốc gia nơi mỗi người đã từng thường trú sẽ tiếp tục được áp dụng trong các trường hợp qui định tại khoản 2 đoạn thứ hai của Điều 7. Trong trường hợp vợ chồng không có quốc tịch chung thì đoạn thứ ba của Điều 4 sẽ được áp dụng.
Điều 20
Công ước không ảnh hưởng đến bất kì văn kiện quốc tế nào khác có qui định về các vấn đề được điều chỉnh bởi Công ước này mà một quốc gia ký kết là, hoặc trở thành một thành viên.
Điều 21
Công ước này chỉ được áp dụng, ở mỗi quốc gia kí kết, đối với các cặp vợ chồng đã kết hôn hoặc đã chỉ định luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng của họ sau khi Công ước này có hiệu lực đối với quốc gia đó.
Một quốc gia kí kết có thể tuyên bố mở rộng việc áp dụng Công ước đối với các trường hợp các cặp vợ chồng khác.
CHƯƠNG IV – NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG
Điều 22
Công ước này là công ước mở cho các Quốc gia đã là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế tại thời điểm diễn ra phiên họp thứ mười ba.
Công ước này được phê chuẩn, chấp nhận hoặc phê duyệt và các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt được lưu trữ tại Bộ Ngoại giao của Hà Lan.
Điều 23
Bất kì quốc gia nào khác đều có thể gia nhập Công ước.
Các văn kiện gia nhập được lưu trữ tại Bộ Ngoại giao của Hà Lan.
Điều 24
Bất kì quốc gia nào, tại thời điểm kí, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành đều có thể tuyên bố rằng Công ước này sẽ mở rộng đến tất cả các lãnh thổ để điều chỉnh các quan hệ quốc tế mà quốc gia đó có liên quan, hoặc đến một hay nhiều trong số các lãnh thổ đó. Bản tuyên bố đó sẽ có hiệu lực tại thời điểm Công ước này có hiệu lực đối với quốc gia đó.
Bản tuyên bố đó, cũng như bất cứ sự mở rộng nào theo đó, sẽ phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan.
Điều 25
Một quốc gia kí kết có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó các hệ thống luật khác nhau được áp dụng cho các chế độ tài sản vợ chồng, tại thời điểm kí, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành, có thể tuyên bố rằng Công ước này sẽ được áp dụng cho tất cả các đơn vị lãnh thổ của mình hoặc chỉ cho một hoặc nhiều trong số đó, và có thể gia hạn việc tuyên bố của mình tại bất kì thời điểm sau đó.
Những tuyên bố này phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan, và phải nêu rõ ràng các đơn vị lãnh thổ áp dụng Công ước này.
Điều 26
Một quốc gia kí kết mà có một hệ thống pháp luật quốc gia phức tạp tại thời điểm Công ước này có hiệu lực đối với quốc gia đó, có thể qui định rõ ràng tại bất cứ thời điểm nào bằng việc tuyên bố cách thức mà sự dẫn chiếu tới luật quốc gia của mình sẽ được hiểu theo mục đích của Công ước này.
Điều 27
Không được phép thực hiện quyền bảo lưu đối với Công ước này
Điều 28
Bất kì quốc gia kí kết nào mong muốn đưa ra một trong các tuyển bố được dự kiến theo Điều 5, đoạn thứ tư của Điều 9, Điều 21 hoặc Điều 26 phải thông báo tuyên bố đó cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan biết.
Thông báo phải được đưa ra giống như cách thức thông báo bất cứ sự sửa đổi hoặc thu hồi nào đối với bản tuyên bố đó.
Điều 29
Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng dương lịch thứ ba sau khi nhận được văn kiện thứ ba về việc phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành được nêu tại các Điều 22 và 23.
Sau đó, Công ước sẽ có hiệu lực –
(1) đối với mỗi quốc gia phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc tán thành nó sau đó, vào ngày đầu tiên của tháng dương lịch thứ ba sau khi nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành;
(2) đối với một lãnh thổ mà Công ước đã được mở rộng theo Điều 24, vào ngày đầu tiên của tháng dương lịch thứ ba sau khi thông báo nêu tại Điều đó.
Điều 30
Công ước này sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm kể từ ngày có hiệu lực theo qui định của đoạn đầu tiên của Điều 29, ngay cả đối với các nước mà sau đó đã phê chuẩn, chấp nhận, chấp nhận nó hoặc tham gia vào Công ước này.
Nếu không có tuyên bố bãi ước nào, thì Công ước này được mặc nhiên gia hạn 5 năm một lần.
Bất kì sự tuyên bố bãi ước nào đều phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan, ít nhất sáu tháng trước khi hết thời hạn 5 năm. Công ước này có thể bị giới hạn đối với một số vùng lãnh thổ, hoặc đơn vị lãnh thổ nhất định nào đó mà Công ước áp dụng.
Việc tuyên bố bãi ước sẽ chỉ có hiệu lực đối với quốc gia đã thông báo việc tuyên bố đó. Công ước này sẽ có hiệu lực đối với các quốc gia kí kết khác.
Điều 31
Bộ Ngoại giao của Hà Lan phải thông báo cho các quốc gia thành viên tham gia Hội nghị này, và các quốc gia đã tán thành theo quy định của Điều 23, biết những điều dưới đây –
(1) các văn bản kí kết và phê chuẩn, chấp thuận và phê duyệt nêu tại Điều 22;
(2) các văn bản tán thành nêu tại Điều 23;
(3) ngày Công ước này có hiệu lực theo qui định của Điều 29;
(4) các phần mở rộng được nêu trong Điều 24;
(5) các bản tuyên bố bãi ước nêu tại Điều 30;
(6) các bản tuyên bố nêu tại các Điều 25, 26 và 28.
Trước sự chứng kiến, người kí tên dưới đây, được uỷ quyền phù hợp theo đó, đã kí Công ước này.
Được kí kết tại La Hay, vào ngày 14 tháng 3 năm 1978, bằng ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp, cả hai văn bản có giá trị ngang nhau, một bản duy nhất mà phải được gửi lưu trữ tại Chính phủ Hà Lan, và bản sao đã được chứng thực sẽ phải được gửi, thông qua kênh ngoại giao tới từng quốc gia thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế vào ngày diễn ra phiên họp thứ mười ba của Hội nghị này.
Đạo luật thống nhất về hôn ước của Hoa Kì (UPAA)
* Lưu ý trước khi đọc tài liệu:
1. Tài liệu này được dịch từ Uniform Premarital Agreement Act của Hoa Kì, chỉ dịch nội dung chính (không bao gồm comment).
2. Tài liệu này là bản dịch (bản lược dịch) không chính thức, thực hiện bởi Phạm Linh Nhâm – sinh viên năm thứ 4 trường Đại học Luật Hà Nội khóa 2006 – 2010 để phục vụ cho việc làm khóa luật tốt nghiệp.
3. Quyền tác giả đối với tài liệu này thuộc về Phạm Linh Nhâm.
4. Do người dịch không có chuyên môn về dịch thuật nên sai sót của bản dịch là điều không thể tránh khỏi.
ĐẠO LUẬT THỐNG NHẤT VỀ HÔN ƯỚC
ĐIỀU 1: ĐỊNH NGHĨA. Trong đạo luật này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
(1) “Hôn ước” là thỏa thuận giữa hai người sắp kết hôn được lập ra trong thời gian trước khi kết hôn và phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân.
(2) “Tài sản” là khoản lợi ích, ở hiện tại hay trong tương lai, hợp pháp hoặc hợp lệ, tài sản riêng hay nằm trong tài sản chung với người khác, bất động sản hay tài sản của cá nhân, bao gồm cả thu nhập do lao động và các khoản thu nhập khác.
ĐIỀU 2: HÌNH THỨC. Hôn ước phải được làm bằng văn bản và được hai bên kí vào. Hôn ước có thể có hiệu lực thi hành mà không cần có thêm bất cứ một sự xem xét nào khác.
ĐIỀU 3: NỘI DUNG.
(a) Các bên tham gia lập hôn ước có thể thỏa thuận những nội dung sau:
(1) Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đổi với tài sản của một bên hoặc cả hai bên ở bất kì thời điểm hay địa điểm nào do các bên sẵn có hoặc thu nhập được.
(2) Quyền mua bán, sử dụng, chuyển nhượng, trao đổi, từ bỏ, cho thuê, tiêu dùng, dùng làm tài sản bảo đảm, thế chấp, cầm cố, tự định đoạt hay các quyền quản lí, kiểm soát khác đối với tài sản.
(3) Định đoạt tài sản khi li thân, li hôn, khi qua đời, hoặc khi xảy ra bất kì sự biến nào khác
(4) Sự thay đổi hay chấm dứt việc cấp dưỡng giữa vợ chồng
(5) Lập chúc thư, uỷ thác, hay các biện pháp khác để thực hiện các nội dung của hôn ước;
(6) Quyền sở hữu và tuỳ ý sử dụng tiền bảo hiểm có được từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của một người;
(7) Vấn đề lựa chọn luật điều chỉnh đối với hôn ước và;
(8) Bất kì các vấn đề khác bao gồm quyền và nghĩa vụ cá nhân nhưng không được trái với chính sách công và vi phạm pháp luật;
(b) Quyền được chu cấp của con cái không thể bị ảnh hưởng theo chiều hướng bất lợi bởi những nội dung trong hôn ước.
ĐIỀU 4: HIỆU LỰC. Hôn ước bắt đầu có hiệu lực khi kết hôn.
ĐIỀU 5: SỬA ĐỔI, HỦY BỎ. Sau khi kết hôn, hôn ước có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ bởi một văn bản được kí bởi cả hai vợ chồng. Thỏa thuận sửa đổi này sẽ có hiệu lực thi hành mà không cần một sự xem xét nào thêm.
ĐIỀU 6: THI HÀNH.
(a) Hôn ước sẽ không được thi hành nếu bên chống lại việc thi hành đã chứng minh được rằng:
(1) Một bên đã không tự nguyện thực hiện hôn ước; hoặc
(2) Hôn ước không hợp lí trước khi nó được thực hiện và trước khi thực hiện hôn ước, một bên
(i) Đã không được cung cấp thông tin một cách công bằng và hợp lí về tài sản và các nghĩa vụ tài chính của bên kia;
(ii) Đã không tự nguyện từ bỏ một cách rõ ràng bằng văn bản bất cứ quyền được cung cấp thông tin về tài sản và các nghĩa vụ tài chính của bên kia ngoại trừ thông tin đã được cung cấp; và
(iii) Đã không biết, hoặc đã không thể biết được một cách đầy đủ về tình trạng tài sản hoặc các nghĩa vụ tài chính của bên kia.
(b) Nếu có qui định của hôn ước về thay đổi hoặc chấm dứt việc cấp dưỡng giữa vợ chồng và việc thay đổi hoặc chấm dứt đó khiến một bên trong hôn ước này có đủ điều kiện được hưởng cấp dưỡng theo một chương trình hỗ trợ công nào đó tại thời điểm li thân hoặc li hôn thì tòa án có thể yêu cầu bên kia thực hiện việc cấp dưỡng ở một mức độ cần thiết để có thể tránh được trường hợp các bên cố tình thỏa thuận về việc thay đổi hay chấm dứt điều kiện cấp dưỡng để đủ điều kiện hưởng cấp dưỡng theo chương trình hỗ trợ.
(c) Tính không hợp lí của hôn ước sẽ theo phán quyết của tòa án.
ĐIỀU 7: THI HÀNH KHI HÔN NHÂN VÔ HIỆU. Nếu việc kết hôn bị tuyên vô hiệu thì hôn ước chỉ được thi hành trong một phạm vi cần thiết để đảm bảo cho một hệ quả bất công không xảy ra.
ĐIỀU 8: GIỚI HẠN CỦA HÀNH VI. Bất cứ qui định hạn chế nào áp dụng đối với hành động đòi cấp dưỡng theo hôn ước của các bên đều bị ngăn cản trong thời kì hôn nhân. Tuy nhiên, các bên có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ hợp lí nhằm hạn chế thời gian thi hành cho bên kia bao gồm trì hoãn và estoppel.
ĐIỀU 9: ÁP DỤNG VÀ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ. Luật này được áp dụng và giải thích để thực hiện với mục đích chung là áp dụng thống nhất giữa các tiểu bang.
ĐIỀU 10:TÊN CỦA ĐẠO LUẬT. Tên của đạo luật là đạo luật thống nhất về hôn ước
ĐIỀU 11. HIỆU LỰC TỪNG PHẦN. Nếu có bất cứ điều khoản nào của đạo luật này hoặc việc áp dụng đạo luật này đối với bất cứ người nào hoặc trường hợp nào bị vô hiệu thì sự vô hiệu đó sẽ không ảnh hưởng tới các điều khoản hoặc các áp dụng khác của đạo luật này.
ĐIỀU 12: THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC
ĐIỀU 13: HỦY BỎ. Các đạo luật và các phần của đạo luật sau đây sẽ bị hủy bỏ
Ôn lại kỉ niệm một chút nhỉ
hơn 1 tháng kể từ ngày bảo vệ khóa luận rồi.
Hôm nay vào trang www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com của thầy Hải thấy thầy post 2 bản dịch của mình.
Dạo này giadinh.net đang đăng loạt truyện “nghề li hôn”.
vnexpress thì đang đăng câu hỏi tư vấn về hợp đồng tài sản của vợ chồng trước khi cưới.
Thêm háo hức, nên Ben quyết định mở trang prenup và tự dưng lại hồi tưởng lại cái ngày chiến đấu bảo vệ prenup trước hội đồng phản biện.
Xin tường thuật lại buổi bảo vệ khóa luận ở đây nha (Ben đã post lên yahoo plus rồi nhưng bỗng dưng lại muốn chia sẻ trên wordpress)
1h25: |
| Ôi, mọi người đến sớm thía |
| Thử máy ảnh nèo |
| Chìa khóa nè em, thích mở gì thì mở nhá |
| Ôi, ku ơi, các em ý đi mua C2 cho tớ uống rùi ah, yêu thế |
| Lát mình dùng máy chiếu nên phải tranh thủ cái phông chữ cái đã |
| Nữa nèo |
| Hi |
| Ngước mắt lên nhìn em máy chiếu 1h40 |
| Trời ơi, màu mè như này thì làm sao bây giờ ta |
| Sau một hồi tí toáy chỉnh chiếc thì nó đi luôn, không lên được cái gì nữa |
| Nhỡ máy hỏng thì bỏ xừ, sợ toát hết cả mồ hôi |
| Thui, cười lên phát, phải giữ phong độ chứ, rùi còn chạy đi nhờ vả |
|
Ngàn: “ối giời, tao sợ là không dùng được máy chiếu đâu”
Ben: Con khỉ nài, phải cầu trời cho tao dùng được chứ
Ngàn: mài bảo tao là khỉ á, lát mài bảo vệ xong tao sẽ tặng mài con tinh tinh
|
| Màu em dùng đẹp như nài cơ mừ |
| Rùi yên tâm, anh đã ra tay thì gạo xay ra nước lã |
| Anh nói thế chứ em vẫn lo nhắm |
| Thoai, gửi bản giới thiệu cho các thầy cô trước đã, không được để thời gian chết |
| Được chưa hả anh? |
| Khởi động nèo |
| Hồi hộp thía |
| Được rùi anh ạ, em cảm ơn ạ (Nói thế thui chứ đã biết là dc rùi hay chưa đâu) |
| Lại còn chưa bật micro nữa chứ |
| Ồi, màu mè ngon lành rùi |
| Cô Phương Lan – nhận xét khóa luận và đặt câu hỏi phản biện |
| Giơ quả sơ đồ lên để lưu ý là mình chỉ định chỉ ra lộ trình chứ không đề nghị giải pháp cụ thể |
| Đoạn nì chắc là Mr Cừ đang nói về hôn nhân xã hội chủ nghĩa nên mẹt hơi đơ một xí |
| Đoạn nì mình đang nói về quần hôn, hi hi |
| Đoạn nì là cô xinh xinh iu iu nhận xét thái độ làm việc của mình, cô bảo mình là mỗi lần gặp cô là lại làm mất vài tiếng của cô làm mình bị ngại thế |
| Chuẩn bị kéo màn chiếu lên |
| Ồi chị ơi, ra ngoài mí được tặng hoa ý |
| ồi, nở nụ cười thu hoạch kìa |
| UI, mình cảm ơn |
| Ui, mình rất chi là cảm ơn |
| ôi, hoa Ly vàng vừa thơm vừa đẹp, mình thích nhắm ý |
| hi cảm ơn bạn |
| thoai, nhà mình xuống dưới tự sướng cho nó rộng rãi đê |
| Nhím và Ben |
| Version2 nào |
| Nào nào, bih tớ mí được lên ảnh đấy |
| bạn nì là K34 đới, chẳng qua là mình nhún thui, bình thường mình ko thấp thía đâu |
| bạn Ngàn chim nì |
| Em iu của tớ đới, xinh hông? |
| bạn Nhỏ mí bạn Nhím tranh thủ tự sướng |
| Các chiến hữu ở YJC nè |
| |
| YJC nè |
| các tình yêu ở G5 |
|
ôi, các bác Ngừng nài, tranh thủ ôm con nhà người ta thế này chứ
mình post lên đây cho có người ghen nổ mũi thì thui
|
| ội ôi, mải làm dáng, ngược em Kin kin rùi |
| nào thì xuôi nào |
| ồi, trông bạn Kin kin yêu dã man |
| ku, tình iu vĩ đại của tớ |
| K33 YJC |
| bác Ngừng |
| cái pic sẹc xi nhất album đới |
| bạn Thy Vân bảo là chưa có quả ảnh truyền ngôi nèo nên lấy tạm cái nì nhá |
| đứng cạnh thư viện, mình thấy mình thon hơn bao nhiêu ý |
| trông tụi mình thật là iu |
| lần 1st chúng mình chụp ảnh gốc cây hay sao ý nhở |
| nữa nèo |
| ku |
| Nụ cười Việt Nam |
| nhậu fanta mí vịt nướng |
|
Kin kin
|
Tiếp theo là những tấm hình chụp sáng 21/5 đi ngắm nghía các bạn bảo vệ
|
|
| Chúc mừng bạn Quỳnh Anh đã nổ phát súng đầu tiên |
| Hi, tranh thủ cái phông lúc giải lao |
| Hôm nay cô đi giày bệt với cả mặc váy dài nên ít lung linh hơn ngày thường |
| Cả 4 đứa cô hướng dẫn viết khóa luận nè |
Tặng các bạn:
Các tài liệu dùng trong buổi thuyết trình(bao gồm: giới thiệu đề tài:http://phamlinhnham.files.wordpress.com/2010/05/gt.pdf ;
mục lục đề tài: http://phamlinhnham.files.wordpress.com/2010/05/ml.pdf; tóm tắt chương 1:http://phamlinhnham.files.wordpress.com/2010/05/c1.pdf
, tóm tắt chương 2: http://phamlinhnham.files.wordpress.com/2010/05/c2.pdf)
Slide thuyết trình của tớ:http://phamlinhnham.files.wordpress.com/2010/05/ben-thesis-presentation.ppt
Thesis của tớ: http://phamlinhnham.files. wordpress.com/2010/05/hlu-ben- prenup-thesis-2010.pdf
![]()
: Bản dịch UPAA và công ước Lahay 1978 về luật áp dụng với chế độ tài sản vợ chồng:http://phamlinhnham.files. wordpress.com/2010/05/ben- lahay-14-03-78-v1.pdf ;http://phamlinhnham.files. wordpress.com/2010/05/ben- upaa-v1.pdf
Hôn ước trong lịch sử pháp luật Việt Nam
Xin mời đọc bài Giới thiệu về hôn ước hay còn gọi là hôn khế trước khi đọc bài viết này
Không giống như các chế định pháp luật khác, hôn ước “nhập cư”, “tồn tại” và bị “trục xuất” khỏi pháp luật Việt Nam một cách lặng lẽ, không dựa vào cơ sở xã hội nào .
Mặc dù trong xã hội phong kiến Việt Nam, các qui định về hôn nhân gia đình chiếm một vị trí quan trọng trong các văn bản pháp luật song tuyệt nhiên chế độ tài sản vợ chồng không được qui định như một chế định riêng rẽ và cụ thể . Pháp luật thời kì phong kiến lại càng không hề biết đến một qui định mang nội hàm như hôn ước đang nói tới ở đây . Đến thời thực dân Pháp xâm lược, hôn ước mới cùng thiên chúa giáo lần đầu du nhập vào Việt Nam.
1. Hôn ước trong pháp luật thời kì Pháp thuộc
Trong thời kì Pháp thuộc, với chính sách “chia để trị” thực dân Pháp chia nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình.
- Ở Bắc kì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (Dân luật Bắc kì)
- Ở Trung kì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (Dân luật Trung kì)
- Ở Nam kì cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (Dân luật giản yếu Nam kì)
Hôn ước được ghi nhận trong Dân luật Bắc kì, Dân luật Trung kì, riêng tập Dân luật giản yếu Nam kì không có ghi nhận về hôn ước cũng như vấn đề tài sản vợ chồng tuy nhiên án lệ ở Nam kì trong thời kì này lại “luôn luôn nhắc lại nguyên tắc tự do lập hôn ước mà các tòa án Pháp coi là lẽ đương nhiên được áp dụng trong khi không có luật viết” .
Điều 104 Tiết thứ IV thiên thứ V quyển thứ nhất Dân luật Bắc kì qui định rằng: “Về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến toàn thể vợ chồng là khi nào vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau mà thôi, miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và trái với quyền lợi người chồng là người chủ trương trong đoàn thể”. Điều 105 lại qui định rằng: “Phàm tư ước về tài sản giá thú phải làm thành chứng thư tại trước mặt “no-te” , hoặc do Lý trưởng thị thực, mà phải làm trước khi khai giá thú. Đã khai giá thú rồi thì không được thay đổi gì nữa. Hôn ước phải do các người có quyền ưng thuận trong việc giá thú ký nhận cho mới được. Phàm tư ước về tài sản giá thú, phải biện chú vào chứng thư giá thú thì mới có thể đem đối dụng với người ngoài được. Ai muốn xin trích lục chứng thư giá thú về khoản biên chú các tư ước ấy, thì sẽ do bộ lại cấp phát cho”. Có thể thấy hôn ước đã được thừa nhận trong Dân luật Bắc kì với đầy đủ các đặc điểm, tiêu chí cần có của một hôn ước. Về hình thức, hôn ước dưới thời này cũng buộc phải lập bằng văn bản và được xác nhận bởi công chứng viên hoặc lí trưởng; hôn ước phải lập trước khi kết hôn và không thể thay đổi trong suốt thời kì hôn nhân. Về nội dung, hôn ước không được trái với phong tục tập quán và quyền lợi của người chồng, trong giai đoạn này, quyền gia trưởng của người chồng được coi là một thứ trật tự công cần được bảo vệ.
Dân luật Trung kì cũng qui định về hôn ước, nhưng cách sắp xếp cũng như nội dung đã chép theo bộ Dân luật Bắc kì, cả những nét chính và những nguyên tắc vẫn được giữ nguyên. Điều 102 và 103 của Dân luật Trung kì có nội dung hệt như Điều 104 và 105 Dân luật Bắc kì, có chăng là chỉ khác nhau về ngôn từ và sự khác nhau này không ảnh hưởng gì đến nội dung của qui định .
* Mặc dù là qui định của pháp luật Việt Nam, nhưng những qui định này đã chép gần như nguyên văn điều 1387 dân luật Pháp. Hôn ước và nguyên tắc tự do lập hôn ước không hề xuất phát từ nhu cầu của xã hội Việt Nam thời bấy giờ mà được du nhập vào Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp. Sự cấy ghép pháp luật không có tính toán này đã khiến cho các qui định về hôn ước trở nên thừa và vô tác dụng. Hầu như dân chúng đều chưa biết gì đến qui định pháp lí mới mẻ này . Hơn nữa, dưới chế độ phong kiến dẫu có quan tâm đến tài sản trong hôn nhân thì người ta cũng chỉ quan tâm đến sự môn đăng hộ đối của hai gia đình chứ không hề đề cập đến quyền lợi vật chất một cách quá rõ ràng và thiếu tinh thần giao hiếu như những gì qui định trong hôn ước.
Mặt khác có lẽ cũng vì hôn ước không phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam đương thời nên các nhà làm luật cũng chỉ qui định một cách “lấy lệ” khiến cho chúng ta dễ dàng thấy được tính không hoàn chỉnh, không chặt chẽ của qui định hôn ước khi xem xét toàn bộ các qui định về chế độ tài sản vợ chồng ở đây. Theo qui định thì khi sử dụng quyền tự do lập hôn ước, hai vợ chồng có thể tùy ý ấn định điều lệ mà sau này hai bên sẽ phải theo, song luật Việt Nam không nói rõ rằng: nếu không theo chế độ pháp định thì họ có thể chọn theo chế độ tài sản nào, mà tự bắt họ phải xây dựng toàn bộ qui định điều chỉnh tài sản của mình; thêm nữa là không hề có hướng dẫn thêm nào về hôn ước trong toàn bộ các qui định pháp luật thời đó. Trong khi bộ luật dân sự của Pháp thì có rất nhiều chế độ tài sản về nội dung cho vợ chồng lựa chọn nếu như vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định. Chỉ việc qui định bỏ lửng đó của pháp luật Việt Nam đã khiến cho hôn ước vốn đã chẳng phù hợp với xã hội Việt Nam lại càng trở thành một chế định bất khả thi trong hệ thống pháp luật.
2. Hôn ước theo hệ thống pháp luật ở miền nam nước ta trước ngày thống nhất đất nước (1954 – 1975)
Trong thời gian cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thông qua hai văn bản pháp luật mang tính pháp điển đó là Luật Gia đình năm 1959 và Bộ luật Dân sự năm 1972.
* Luật Gia đình năm 1959
Mặc dù trong phiên họp thông qua Luật Gia đình năm 1959, các nghị viên cũng đề cao tính mẫu mực của dân luật Pháp, song Luật Gia đình 1959 khác biệt đáng kể so với Dân luật Bắc kì và Dân luật Trung Kì. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một văn bản pháp luật chỉ qui định riêng về Gia đình và kết cấu cũng không hoàn toàn giống với dân luật Pháp.
Điều 45 Luật Gia Đình 1959 qui định: “Luật lệ chỉ qui định phu phụ tài sản khi nào vợ chồng không có lập hôn ước mà họ muốn làm ra sao cũng được miễn là không trái với phong hóa, trật tự công và quyền lợi của con”. Nguyên tắc luật chỉ can thiệp vào chế độ tài sản vợ chồng khi vợ chồng không lập hôn ước đã được thể hiện ngay tại đây, đây cũng là một qui định tương đối tiến bộ bởi quyền gia trưởng của người chồng đã không còn là một trật tự công cần được bảo vệ mà thay vào đó là quyền của con .
Hôn ước trong Luật Gia Đình 1959 đã được qui định một cách tỉ mỉ hơn. Hôn ước phải được lập bằng văn bản trước khi kết hôn, được công chứng và phải được công bố. Điều 46 Luật Gia Đình qui định: “hôn ước phải làm bằng chứng thư trước mặt trưởng khế hay một viên chức có thẩm quyền thị thực”, việc thị thực ở đây thực chất là công chứng . Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và phải được ghi vào trong giấy giá thú, vì như thế mới đảm bảo cho hôn ước có giá trị với người thứ ba. Riêng đối với những người buôn bán, thì hôn ước của họ phải được niêm yết tại tòa thương mại và chủ cước vào sổ thương mại do phòng lục sự tòa này giữ . Luật Gia đình còn qui định cả về sự vô hiệu của hôn ước, hôn ước sẽ vô hiệu nếu như không đảm bảo các điều kiện về nội dung và hình thức; hôn ước không công bố thì không vô hiệu, nó chỉ không có hiệu lực với người thứ ba mà thôi; khi hôn ước vô hiệu thì chế độ tài sản của vợ chồng sẽ là chế độ tài sản pháp định (cộng đồng toàn sản); sự vô hiệu của hôn ước không ảnh hưởng tới việc kết hôn, nhưng ngược lại nếu việc kết hôn bị vô hiệu thì đương nhiên hôn ước cũng vô hiệu, Luật cũng qui định là hôn ước chỉ có hiệu lực trong thời kì hôn nhân. Trong suốt thời kì hôn nhân, hôn ước không thể được sửa đổi. Khác với Dân luật Trung kì và Bắc kì, Luật Gia đình 1959 qui định tương đối kĩ về vấn đề li thân, Luật Gia đình 1959 cấm li hôn (chỉ được li hôn khi được sự chấp thuận của tổng thống) và qui định tương đối tỉ mỉ về chế định li thân cho nên có thể coi rằng hôn ước là một giải pháp để cho những cặp đôi sống li thân có điều kiện để tiếp tục sống thoải mái.
* Bộ luật dân sự năm 1972
Ngày 20/12/1972 chính quyền Việt Nam cộng hòa có ban hành Bộ luật Dân sự năm 1972 trong đó phần phu phụ tài sản cũng dành các Điều từ 144 đến 149 để qui định về hôn ước với những qui định tương đối chung chung và không được tỉ mỉ như Luật Gia đình năm 1959. Bộ luật này cũng chỉ được áp dụng trong thời gian rất ngắn. Hôn ước được qui định trong Bộ luật Dân sự 1972 với những nét cơ bản sau:
- Luật pháp chỉ qui định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước.
- Vợ chồng được tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn là không trái với trật tự công cộng và thuần phong mĩ tục.
- Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và được công chứng
- Hôn ước không thể thay đổi trong thời kì hôn nhân
- Hôn ước có thể sửa đổi trước khi kết hôn nhưng bản sửa đổi cũng phải được công chứng
- Hôn ước sẽ không có hiệu lực với người thứ ba nếu như không được ghi và giấy đăng kí kết hôn.
3. Hôn ước trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta từ Cách mạng Tháng tám (1945) đến nay
Như đã phân tích, những qui định về hôn ước trong Dân luật Bắc kì và Dân luật Trung kì vốn không hề được người dân biết đến, bởi thế mà có lẽ sự biến mất của nó khi thay đổi chế độ cũng là điều không được những người thời đó để ý.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên qui định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình: sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 qui định về vấn đề li hôn, sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh số 97-SL là văn bản duy nhất điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Nói về quan hệ giữa vợ và chồng sắc lệnh chỉ có qui định tại Điều 5 “Chồng vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” và Điều 6 “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ”. Sắc lệnh này không hề đề cập đến việc công nhận hay không công nhận hôn ước. Tuy nhiên Điều 1 Sắc lệnh qui định “Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân”, Điều 14 lại qui định “Tất cả những điều khoản trong dân pháp điển Bắc kì, dân pháp điển Trung kì, Pháp qui giản yếu 1883 (sắc lệnh ngày 3/10/1883) thi hành ở Nam kì, và những luật lệ theo sau, trái với những điều khoản ở trên này đều bị bãi bỏ.” Vậy nên nếu hôn ước được lập mà không trái với quyền lợi của người vợ, không trái với quyền lợi của người chồng thì vẫn được coi là không trái với quyền bình đẳng của vợ chồng và được công nhận là có hiệu lực. Vậy nên theo nguyên tắc, hôn ước vẫn có thể được coi là không bị xóa bỏ trong pháp luật xã hội chủ nghĩa từ năm 1945 tới năm 1959. Hoặc có thể nói rằng một chế định bất khả thi thì việc xóa bỏ hay không xóa bỏ cũng không ảnh hưởng gì, nhưng điều đó cũng có nghĩa là người ta không hề quan tâm đến sự tồn tại của hôn ước vốn có trong dân luật và nếu như vậy thì càng có nghĩa rằng sự tồn tại của hôn ước không hề mâu thuẫn với chế độ xã hội chủ nghĩa vì nếu nó mâu thuẫn về lí thuyết thì ngay lập tức người ta sẽ xóa bỏ nó.
Từ khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định, qui định về hôn ước hoàn toàn không còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 qui định “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” vậy là trong một khoảng thời gian hơn 25 năm (thời gian Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực), pháp luật Việt Nam không thừa nhận tài sản riêng của vợ chồng. Đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời, chế độ tài sản vợ chồng ở Việt Nam là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản thì tài sản riêng của vợ chồng mới được thừa nhận. Luật cũng cho phép vợ chồng được chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân (việc chia tài sản này phải có bản án của tòa án). Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, vợ chồng cũng không được thỏa thuận bất cứ vấn đề gì về sở hữu tài sản trừ vấn đề nhập tài sản riêng có trước hoặc trong thời kì hôn nhân thành tài sản chung. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời kèm theo đó là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị định 70) đã tạo ra một sự thay đổi cơ bản gây nhiều tranh cãi về chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Theo những qui định này vợ chồng có thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, thậm chí việc thỏa thuận chia tài sản này trong nhiều trường hợp chỉ cần lập bằng văn bản không có sự công chứng, chứng thực. Vợ chồng còn có thể thỏa thuận về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản này, nếu không thỏa thuận thì chế độ tài sản của vợ chồng dường như được đặt ở chế độ biệt sản . Qui định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn qui định về các thỏa thuận trong vấn đề tài sản vợ chồng đã tạo nên một sự khác biệt đáng kể so với chế độ tài sản pháp định thuần túy vẫn thường thấy.
Lưu ý:
Bài viết được trích từ khóa luận tốt nghiệp của Ben.
Hiện tại wordpress không còn hỗ trợ footnote nên Ben không thể đặt chú thích tại đây
Xin mời xem khóa luận tốt nghiệp của Ben tại đây để đọc phần bài viết có đầy đủ chú thích
Nào mình cùng nhau cai “net”
Internet làm chúng ta ngu đi?
TT – Khi Nicholas Carr bắt tay viết quyển sách về đề tài liệu Internet có hủy hoại khả năng tư duy của con người hay không, ông đã hạn chế tối đa hoạt động trên mạng, chỉ kiểm tra thư điện tử, tắt hẳn các tài khoản Twitter và Facebook.
Cuốn sách mới ra lò của ông có tựa đề The shallows: What the Internet is doing to our brains (Những điều nông cạn: Internet đã làm gì với bộ não chúng ta), cho rằng công nghệ mới đang khiến đầu óc con người mất đi các khả năng tư duy sâu sắc, tập trung và nhẫn nại.
Nicholas Carr – Ảnh: Wikipedia.org
“Tôi cảm thấy khả năng tập trung của mình trở nên hết sức yếu ớt. Vì vậy, tôi từ bỏ Facebook và Twitter, chỉ kiểm tra thư điện tử vài lần một ngày thay vì mỗi 45 giây. Tôi thật sự cảm thấy sự khác biệt” – Carr nói với Reuters trong một cuộc phỏng vấn ngày 3-6. Theo đó, trong vòng vài tuần lễ liền ông có thể tập trung vào một công việc duy nhất và hoàn tất tác phẩm mà chính ông là một ví dụ.
Carr cũng là tác giả bài viết từng gây nhiều tranh cãi trên tạp chí Atlantic năm 2008 “Phải chăng Google đang khiến chúng ta ngu đi?”. Những tác phẩm của Carr nghiên cứu lịch sử việc đọc sách và khoa học về việc thay đổi các phương tiện thông tin có thể ảnh hưởng thế nào đến trí não. Xem xét quá trình lịch sử xã hội chuyển biến từ thông tin truyền miệng, sang chữ in và Internet, ông chỉ ra chi tiết bộ não làm thế nào để thích nghi với các nguồn thông tin khác nhau.
Theo đó, Internet đã thay đổi cơ bản cách làm việc của não bộ. Đối mặt hằng ngày với lượng thông tin khổng lồ chữ viết, hình ảnh, các đoạn phim, âm nhạc, những đường link, các tin nhắn, thư điện tử, cập nhật Facebook, Twitter, blog… trí não con người trở nên giống như những “nhân viên thủ thư”, có thể tìm kiếm và sắp xếp thông tin nhanh nhưng đánh mất khả năng tư duy sâu sắc và đào sâu vào vấn đề như một chuyên gia.
CNN dẫn nghiên cứu của Carr cho thấy ngày nay trung bình người Mỹ dành tám giờ mỗi ngày dán mắt vào màn hình, tivi, máy tính hoặc điện thoại di động. Mỗi tháng, trung bình một thiếu niên Mỹ gửi và nhận hơn 2.000 tin nhắn các thể loại. Đổi lại, nhiều người đánh mất dần thói quen đọc những cuốn sách lớn hay các bài tiểu luận, bài báo dài có ích cho sự tập trung.
“Chúng ta đang đánh mất nhiều kỹ năng tư duy, những kỹ năng đòi hỏi sự tập trung, sự lắng đọng, xem xét thấu đáo vấn đề. Không có thời gian và không gian cho những điều đó trên Internet” – Carr kết luận.
HẢI MINH
Nguồn
Comment:
Dùng từ ngu thì hơi mạnh quá, nhưng thôi, đấy là mặt còn lại của vấn đề; nó cũng đại loại như: máy giặt làm chúng ta lười đi, máy bơm nước làm chúng ta yếu đi….
Nếu bạn định cai “net” thật thì cứ từ từ để cân nhắc lợi hại nhá, nói vậy thôi chứ thật ra Ben nghĩ rằng mình không thể tìm được nổi ai có ý định cai internet nếu người đó còn tiếp tục muốn sống một cuộc sống của một trí thức hiện đại.
Cai net ư? ai mà hỏi thì Ben sẽ trả lời là không bao giờ.
Bảo vệ khóa luận kiểu đọc, kể và diễn xuôi.
Trong khóa luận tốt nghiệp, sinh viên phải đưa ra những giải pháp, kiến nghị cho một vấn đề khoa học. Và họ phải bảo vệ những quan điểm đó trước hội đồng. Thế nhưng, nhiều sinh viên không “bảo vệ” mà là “kể lể” những điều họ dày công viết trong mấy tháng ròng rã. Thay vì tập trung vào những giải pháp và luận giải, họ lại nói “dông dài” nội dung cụ thể.
Bảo vệ khóa luận tốt nghiệp chiếm 60% điểm
Khóa luận tốt nghiệp được đánh giá ở hai phần: phần viết và phần bảo vệ trước hội đồng. Thực tế cho thấy, phần bảo vệ trước hội đồng phải chiếm đến 60% điểm khoá luận. Tuy nhiên, hầu hết sinh viên không mấy chú tâm đến phần bảo vệ của mình. Họ có khoảng 3 tháng để chuẩn bị và dành phần lớn thời gian đó để đọc tài liệu và viết trong khi phần viết chỉ chiếm khoảng 40% điểm. Sau khi viết xong, họ thường thoả mãn mà ít quan tâm tới việc mình sẽ bảo vệ khóa luận như thế nào. Chẳng hạn như phải trình bày những điểm gì, trình bày như thế nào để thu hút người nghe, trả lời câu hỏi như thế nào…
Trên thực tế, chỉ có giáo viên phản biện là người nghiên cứu kỹ khoá luận để nhận xét, còn những thành viên khác chỉ lướt qua phần mục lục và kết luận. Đa số các thành viên trong hội đồng không nắm bắt hết những nội dung bạn đã viết, vì vậy, họ đánh giá chất lượng khoá luận chủ yếu thông qua phần bảo vệ (trình bày và trả lời câu hỏi) của bạn.
Thường thì trong một buổi có khoảng 10 sinh viên bảo vệ. Phần lớn, các bài thuyết trình đều thiếu hấp dẫn cả về hình thức lẫn nội dung. Về hình thức, đa số sinh viên cầm một tập giấy viết sẵn lên trên bục đọc từ đầu đến cuối. Có những người chu đáo hơn thì học thuộc bài nói ở nhà và trong buổi bảo vệ thì cứ thế mà thao thao bất tuyệt như một con vẹt mặc cho các thành viên trong hội đồng có nghe hay không.
Mỗi sinh viên có khoảng 8 đến 10 phút để trình bày nhưng phần lớn họ quá “tham lam” muốn trình bày hết tất cả những nội dung của khoá luận. Đương nhiên, họ thường xuyên bị hội đồng nhắc nhở nên nói ngắn gọn, tập trung vào những ý chính nổi bật. Các thầy cô chờ đợi là sự sáng tạo trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề.
Những bài thuyết trình kiểu đó đúng ra phải gọi là “diễn văn tốt nghiệp”. Các thành viên trong hội đồng đôi lúc cũng “nói chuyện riêng” hay nghe điện thoại. Chỉ có đội ngũ cổ vũ tươi tỉnh, bởi nhiệm vụ chính của họ là tặng hoa.
Thuyết trình phải thuyết phục
Trong khi một bài thuyết trình hay cần kết hợp nhuần nhuyễn nhiều yếu tố (giọng nói rõ ràng, truyền cảm, có hình ảnh minh hoạ sống động, dùng cử chỉ hỗ trợ lời nói, dùng ánh mắt thuyết phục…). Những yếu tố đó đem lại hiệu quả cao khi thuyết phục người khác.
Mọi sinh viên đều học môn tin học và đều biết đến phần mềm Microsoft Powerpoint dùng để trình diễn. Thế mà, trong một phòng hội thảo sang trọng có sẵn máy tính và máy chiếu, một sinh viên từng đạt điểm mười môn tin học lại đứng nguyên mà thao thao bất tuyệt. Họ đã không nhận thức đúng vai trò của hình ảnh. Khi dùng hình ảnh, sơ đồ sống động để mô tả cho lời nói của mình thì một ý tưởng trừu tượng cũng sẽ trở nên dễ hiểu hơn vì não người tư duy qua hình ảnh. Dùng máy chiếu được cái lợi trước hết là gây ấn tượng cho hội đồng vì đã biết “ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến”. Nó còn là sự minh hoạ cho nội dung bài nói nếu được sắp xếp hợp lý.
Việc thuyết trình có dùng slide minh hoạ thông qua việc sử dụng máy chiếu sẽ hấp dẫn và gây ấn tượng tốt cho người nghe. Tuy nhiên, nó lại đòi hòi người thuyết trình phải biết chút kiến thức tin học và phối hợp nhuần nhuyễn giữa lời nói, hành vi của mình với slide minh hoạ. Hơn nữa, để có những slide ấn tượng, có giá trị, người thiết kế phải có tư duy sáng tạo và óc khái quát, phân tích cao.
Vì vậy, để đạt được điều đó, tất nhiên, sinh viên bảo vệ Khóa luận phải chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng. Trước tiên, cần xác định những nội dung cần nói và thiết kế slide để minh hoạ cho điều đó. Sau đó, tập thuyết trình dùng slide cho tới khi thuần thục.
Mỗi lần nói lại nhớ bài hơn và rút ra nhiều kinh nghiệm. Một nhóm năm người thay nhau thuyết trình và sửa cho nhau từng lời nói, cử chỉ. Bảo vệ khóa luận tốt nghiệp chính là “cơ hội vàng” để rèn luyện và thể hiện mình.
Comment
Mình sắp bảo vệ khóa luận, hơn 10 ngày nữa thôi.
Năm nay trường mình đổi mới, cho thuyết trình ở nhà B, có cơ hội được dùng máy chiếu rồi, thế mà nhóm mình có tới 3 người không muốn dùng máy chiếu để thuyết trình. Muốn đổi mới cũng phải có thời gian cho người ta thích nghi nhở.
Bánh chưng vẫn là linh hồn của Tết
TRIẾT LÝ BÁNH CHƯNG – BÁNH DÀY
Ở một vài đô thị Việt Nam hiện đại, như thủ đô Hà Nội, người ta đã làm và bán bánh chưng, bánh dầy hằng ngày, như một thứ hàng quà, để phục vụ cho thị hiếu thích ăn quà của người dân đô thị. Quà là để ăn chơi, tất nhiên cũng có thể “ăn no quà”, nhưng về bản thể luận, quà là món ăn chơi, ăn qua loa thôi, chứ không phải là thứ lương thực thực phẩm chủ yếu, hằng ngày…
Trong phong tục học và tâm (lý) học, người ta thường phân biệt hai cặp phạm trù:
- Cái thiêng liêng/cái thông thường (hay cái thiêng và cái tục).
- Cái nghi lễ/cái hằng ngày.
Giữa hai phạm trù này, có một phép biện chứng chuyển hóa lẫn nhau.
Ví như xôi, vốn là lương thực hằng ngày của người Việt cổ thời đại Đông Sơn – Âu Lạc trở về trước (trong nhiều di chỉ Phùng Nguyên – Bàu Tró đã tìm thấy chõ đồ xôi bằng đất nung) cũng như của các cư dân Thái-Mường miền thung lũng trước Cách mạng Tháng Tám
Với xu hướng “tẻ hóa” của nhà nông trồng lúa nước (do áp lực dân số và nhu cầu tăng năng xuất lúa), dần dà người Việt thời Lý, Trần và người Thái người Mường hôm nay hằng ngày đều dùng cơm tẻ. Người ta dành chỗ xôi cho những ngày giỗ chạp, tết nhất, cưới xin, ma chay… nghĩa là chuyển hóa xôi thành món ăn nghi lễ.
Bánh chưng bánh dầy ở đô thị thời hiện đại đã thuộc phạm trù cái hằng ngày, hay nói cách khác, đã được giải thiêng.
Nhưng ở thời đại Việt cổ truyền, và chừng nào đó, ở nông thôn Việt Nam cho đến Tết xuân này, bánh chưng bánh dầy vẫn thuộc phạm trù nghi lễ. Người ta chỉ làm và dùng nó (dùng để cúng, để ăn, để làm quà biếu tặng nhưng thường không để bán) trong ngày Tết hay trong những ngày lễ hội (nhiều làng đồng bằng Bắc Bộ có tập tục Tết, rằm tháng Giêng cúng và dùng bánh chưng, lễ hội tháng Ba lịch trăng (Mồng 3, mồng 6, mồng 10…) cúng và dùng bánh dầy, chè kho).
Ngày trước, bánh dầy, bánh chưng là những lễ vật và món ăn dân tộc. Bây giờ nó vẫn còn là món ăn dân tộc đáng cho ta gìn giữ và trân trọng. Nhưng xin nhận thức lại cho đúng mức hơn: Nó không phải là lễ vật và món ăn độc đáo Việt Nam theo nghĩa chỉ Việt Nam mới có, mới dùng.
Bà Á Linh, giảng viên trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội là người Việt gốc Hoa, quê gốc ở Tứ Xuyên, theo chồng Việt Nam sang sinh sống và công tác ở Hà Nội từ mấy chục năm nay, nhân ngày tết cổ truyền năm con Khỉ (1980) đã cho tôi biết là ở Tứ Xuyên quê bà có loại bánh lễ gần giống như “bánh Tét” (bánh chưng gói tròn như cái giò) và được gọi âm Hán Việt đọc là “tông bính” nhưng âm Hán Tứ Xuyên đọc gần như Téung pính.
Ông Ohayashi Taryo, giáo sư nhân học văn hóa trường Đại học Tokyo trong bài báo cô đúc “Vị thần lấy trộm giống lúa” (Xem thông báo UNESCO tháng 12-1984, số chuyên đề về “Những nền văn minh lúa gạo”) lại cho ta biết món bánh mochi rất phổ biến và quan trọng của bếp ăn Nhật Bản “được làm bằng gạo nếp hạt ngắn đem đồ lên đến khi chín mềm rồi đem giã nóng bằng chầy cho đến khi thành bột dính trong đó không còn phân biệt được hạt nữa… Mochi đóng vai trò quan trọng trong lễ tết, đầu năm mới ?
Đó chính là bánh dầy với các loại hình to nhỏ khác nhau, được bày thành hàng trên bàn thờ cúng tổ tiên và sau đó được ăn với thứ cháo đặc biệt gọi là ojoni trong bữa ăn nghi thức sáng mồng một Tết của người Nhật.
Cho nên, xin nói lại cho chính xác hơn là bánh chưng – bánh dầy là sản phẩm độc đáo của một vùng văn minh lúa gạo rộng lớn ở Đông á và Đông – Nam Á. Tất nhiên Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn cho ta biết là lúa nếp có loại hình đa dạng nhất và điển hình nhất là ở lưu vực sông Hồng. Bởi vậy, nơi đây phong phú các lễ vật và món ăn được chế tạo từ gạo nếp. Dù sao, bánh chưng vẫn là lễ vật và món ăn cổ truyền điển hình nhất của ngày Tết Việt Nam.
Tôi xin đưa ra một minh giải văn chương: Bà con cô bác miền nam gọi bánh chưng là bánh tét, chữ bánh tét này là tiếng đọc chạnh kiểu miền nam của bánh tết. Và nhân đây xin thanh toán một “ngộ nhận văn hóa”. Thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn như bánh Nam Bộ, gọi là đòn bánh tét là hoàn toàn chính xác. Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói thêm bánh chưng vuông. Thế cho nên, cái triết lý gán bánh chưng vuông tượng Đất, bánh dầy tròn tượng Trời là một “ngộ sự văn hóa”. Trời tròn đất vuông là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam. Đó không phải là triết lý dân gian Việt Nam. Nó không phải là Folklore (nguyên nghĩa: trí tuệ dân gian) mà là Fakelore (trí tuệ giả dân gian).
Bánh chưng tròn dài tượng Dương vật, như cái chày, cái nõ. Bánh dầy tròn dẹt tựa Âm vật, như cái cối, cái nường.
Đó là tín ngưỡng và triết lý nõ-nường-chày-cối-chưng-dầy của dân gian, của tín ngưỡng phồn thực dân gian. Ngay như khi đã gói bánh chưng vuông, dân gian ngày trước vẫn có tục lệ buộc hay ấp hai chiếc bánh một sấp một ngửa đặt trên bàn thờ và khi biếu họ hàng khách khứa ngày trước dân gian cũng giữ tục biếu một cặp bánh chưng (cũng như trước đấy bao giờ dân ta cũng mua một đôi chiếu) chứ không bao giờ tặng một chiếc bánh chưng (cũng như không bao giờ mua một chiếc chiếu). Nhân tiện nói thêm: việc mua hay chặt cây mía cả gốc cả ngọn đặt bên bàn thờ với giải thích hữu thức ngày sau đó là “gậy chống của ông vải” về nguyên ủy cũng thuộc về tín ngưỡng phồn thực.
Bánh chưng gói ghém trong nó cả một nền văn minh nông nghiệp lúa gạo. Trong bầu khí văn minh đó, người Việt Nam sống vừa hòa hợp (thích nghi tối đa và tối ưu) vừa đấu tranh (biến đổi) với tự nhiên. Lá dong gói bánh là lá dong riềng lấy sẵn của thiên nhiên. Cái bánh chưng, là sản phẩm của trồng trọt và chăn nuôi Việt Nam: gạo nếp, đỗ xanh, hành, thịt lợn… Cái đặc sắc, độc đáo của bánh chưng không phải chỉ là, thậm chí không phải chủ yếu là ở từng yếu tố họp thành cái bánh mà là ở cơ cấu của bánh, nó tạo nên nét khác biệt trong hình khối, mầu sắc, hương vị của bánh chưng so với các loại xôi đỗ và bánh nếp khác. Với gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn… có thể tạo nên mấy chục loại bánh xôi Việt Nam dùng hằng ngày như quà và trong các dịp cưới xin, giỗ, tết như lễ phẩm.
Huyền thoại quy công sáng tạo bánh chưng bánh dầy cho Lang Liêu, một người con thứ của vua Hùng, tổ dựng nước Việt Nam. Cũng như “vua Hùng”, “Lang Liêu” là một “anh hùng văn hóa”, nó không hề hiện hữu như một cá thể (cá nhân) nhưng chỉ tồn tại trong công thể (cộng đồng) của nhân dân, dân tộc Việt Nam. Lang Liêu có tài sáng tạo, làm ra bánh chưng bánh dầy cho nên được nhường ngôi, trở thành “vua Hùng” mới. Tuy cũng là cha truyền con nối như xu hướng phổ quát của lịch sử loài người, nhưng không truyền cho con trai trưởng (trước thế kỷ 19, dường như Việt Nam không có tập tục này và sau đó cho mãi đến thế kỷ 14, 15 (Hồ Quý Ly cũng không nhường ngôi cho con trai trưởng là Hồ Nguyên Trừng mà cho con thứ là Hồ Hán Thương) nó vẫn là một truyền thống yếu, có xu hướng ngoại sinh) theo lý, cũng không truyền ngôi cho con trai của một bà ái phi nào theo tình, mà truyền ngôi cho con nào hiền tài, đó là sự kết hợp giữa truyền tử và truyền hiền, đó là sự hòa hợp lý tính thời cổ đại…
Trong các cuộc thi tài thuở trước, mà ở đây là thi nấu cỗ, có biết bao người con của “vua Hùng” đã làm ra biết bao nhiêu món lạ, lạ mắt, lạ miệng… những sơn hào hải vị kiếm tận đâu đâu… Cái giỏi của “Lang Liêu”, cái con mắt tinh đời của “vua Hùng” cũng là cái sáng giá trong bảng giá trị văn hóa của dân tộc dân gian là tìm cái phi thường trong cái thường thường. Trong tâm lý thường nghiệm, có thói quen chuộng lạ, ưa của lạ. Cái hằng ngày thân quen, nếu không biết cách nhìn, cách thưởng thức, cách biến đổi thành cơ cấu mới từ những nhân tố quen thuộc thì dễ trở thành nhàm chán.
Tìm cái đặc biệt trong những của lạ thì nào có khó khăn gì! Có khả năng diễn tả cái phi thường bằng những cái bình thường mới là một tài năng đặc biệt không dễ nhận ngay được giá trị vì cứ tưởng là không khó mà thật ra rất khó, vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu, sự đi sâu tìm hiểu, sự nhập thể rất sâu trong lòng văn hóa và nhân dân…
GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG
Comment:
Lâu lắm rồi, không được gói bánh chưng. Một bé K32 vừa gọi điện chúc tết mình, em ý kể là tối nay vừa gói bánh xong, tối mai sẽ luộc, nghe mà thèm được như thế quá. Năm nay mama chỉ mua có 4 cái bánh chưng thôi. Mình cũng không còn là tín đồ của đồ nếp nữa nhưng dù sao được tự gói bánh chưng mới có cảm giác đang có tết. Có câu đối tết nổi tiếng:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Miền Bắc không treo cây nêu, pháo thì đã bị cấm, câu đối đỏ cũng hiếm có nhà treo, chỉ có bánh chưng là không thể thiếu được trong mỗi nhà khi tết đến. Mặc dù bánh chưng đã được “giải thiêng” nhưng mình vẫn cho rằng bánh chưng là một vật phẩm thiêng liêng không thể thiếu được trong ngày Tết.
Bloger: Nghề chơi cũng lắm công phu
Tháng này, tôi quyết định dành nhiều thời gian hơn để làm một cái blog tử tế.
Tôi vốn là một con gà, nhiều khi tôi không biết hoặc thấy sợ cái thế giới quá rộng và muôn màu muôn vẻ quanh mình. Tôi chỉ thích những thứ tồn tại thực sự chứ không phải những thứ đầy rẫy trên Internet.
Rồi do thích ngắm nhìn mọi người nên tôi tham gia các mạng xã hội, dần dần tôi cũng học được cách share. Lần đầu tiên làm blog 360, tôi đã đặt cái blast thế này: bắt đầu biết share, thế là tốt!
Từ một đứa vốn cũng chẳng phải là người thích sống một cuộc sống ảo hay PR hình ảnh cá nhân, nay, tôi bước vào kha khá nhiều mạng xã hội, làm kha khá nhiều blog và phô bày không ít hình ảnh, tâm tư tình cảm của mình bằng những ngôn từ mà có lẽ ít ai hiểu nổi.
Tôi cũng làm tương đối nhiều blog và chả cái nào ra hồn cả
, lần này do đã kết thúc quãng thời gian còng lưng “vác tù và” và bắt đầu “tung tăng tung tẩy”, tôi quyết định làm một cái blog cho ra trò. Và thế là đặt hai chữ QUYẾT TÂM to lù lù trong đầu ![]()
Và bắt đầu tự mò mẫm, mới đầu nghĩ là vấn đề to lớn nhất là blog wordpress.com chỉ hạn chế trong một số dòng lệnh thôi. Nhưng dần dần nghĩ cách khắc phục thì mới thấy trở thành một bloger thực thụ vô cùng khó, tôi dạo nhiều wordpress đông khách và cảm nhận được điều đó.
Không dám mong thu hút được nhiều khách, tôi làm wordpress này chỉ hi vọng sẽ update những thứ tôi thích và tìm được người chia sẻ với mình.
Tôi làm blog, và sẽ bắt đầu biến mình trở thành một bloger thực sự. Không phải là mở một blog và quẳng những tâm trạng kèm theo những ngôn từ khó hiểu để không ai có thể hiểu được nữa. Nghề bloger kể cũng lắm công phu. Tôi đang bước từng bước nè, ai đó ơi, share với tôi nhá!
Biếm họa về prenup
Ở Mỹ, các luật sư có thu nhập cao nhất là các luật sư làm về luật gia đình, đặc biệt là prenup và postnup.













